CHIẾC CUỐC ĐÀO ĐỊA ĐẠO

Đến thăm địa đạo Vịnh Mốc, địa đạo nổi tiếng nhất của tuyến lửa Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, chúng ta sẽ được xem cuốn phim tài liệu “Vịnh Mốc một huyền thoại” trong đó có nói đến ông Lê Xuân Vi, Đồn trưởng Công an vũ trang 140 Quảng Trị, người đã thiết kế và xây dựng địa đạo Vịnh Mốc. Hiện vật quốc chim đồng chí Lê Xuân Vi sử dụng đào địa đạo từ năm 1966 đến năm 1967 hiện được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4.

Trong những năm chiến đấu chống Mỹ cứu nước, thôn Vịnh Mốc có diện tích gần 1km2 với hơn 800 dân, phía Nam giáp sông Bến Hải, phía Đông giáp biển, là nơi tập kết hàng hoá chi viện cho đảo Cồn Cỏ. Nơi đây là trọng điểm huỷ diệt của máy bay và tàu chiến Mỹ với hàng nghìn trận oanh tạc từ các phi đội bắn xuống, từ hạm đội 7 bắn vào, từ nam sông Bến Hải bắn sang… cả vùng trời, vùng đất không có phút giây yên tĩnh. Cuối năm 1966 một tổ xung kích gồm 4 đồng chí: Hồ Dơi, Ngô Tốn, Ngô Trạm, Hồ Xuyên do đồng chí Lê Xuân Vi, Đồn Trưởng Đồn Công an vũ trang 140 trực tiếp chỉ đạo đã bổ những nhát cuốc đầu tiên xây dựng địa đạo. Đây là tổng thể của một làng quê dưới lòng đất, tập trung các kho hậu cần chi viện cho đảo Cồn Cỏ. Ngoài ra địa đạo còn có hệ thống thông hơi được thiết kế rất độc đáo, phân bố dọc các lùm cây, mô đất bảo đảm bí mật tránh được Bom Bi, ấm áp về mùa đông, thoáng mát về mùa hè. Hôm nay, dù chiến tranh đã lùi xa nhưng địa đạo Vịnh Mốc vẫn được nâng niu gìn giữ, trở thành một trường học cách mạng một địa điểm du lịch có giá trị. Là bằng chứng của sự thông minh, sáng tạo, đức hi sinh, lòng quả cảm của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù để bảo vệ đất nước. Đầu năm 2019 chúng tôi lần theo địa chỉ khu phố 4, phường 5, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị để đến nhà người thiết kế hầm địa đạo năm xưa, ông Lê Xuân Vi. Giờ thì người thương binh già ấy đã không còn, do tuổi cao sức yếu ông mất cách đây hai năm, xa lìa cõi thế ở tuổi 87. Ông đã đi xa nhưng những người con của ông vẫn trân trọng lưu giữ những kỉ vật về cha mình, trong đó có chiếc cuốc chim từng được ông sử dụng trong quá trình thi công địa đạo Vịnh Mốc. Năm 1965, Mỹ ném bom miền Bắc rất ác liệt. Ở bờ Nam, Hạm đội 7 của Mỹ nã pháo từ ngoài biển vào, đất Vĩnh Linh bị cày nát bởi bom rơi, đạn trút trước sự hùng hậu của quân đội được cho là bất khả chiến bại, với những phương tiện quân sự hiện đại, tối tân nhất. Trong thời gian ấy, cuộc họp quan trọng của huyện đội Vĩnh Linh xoay quanh vấn đề làm sao bảo đảm được an toàn cho bộ đội và dân quân du kích, cùng nhân dân địa phương có một số ở lại không đi sơ tán? Lúc đấy, tuyến lửa Vĩnh Linh có nhiều hầm chữ A, hầm chữ U bị bom Mỹ dội sập và khả năng bị sát thương rất lớn. Ông Lê Xuân Vi lúc đấy là Đồn trưởng Công an Vũ trang 140, Tỉnh đội Quảng Trị, hằng ngày đi khảo sát nhiều nơi để xây địa đạo. Đến thôn Vịnh Mốc, ông thấy đất ở đây có độ kết dính cao, có thể đào sâu xuống được nên đã ra phương án chọn nơi này. Ông đã huy động những anh em trong đồn ra để đào giếng. Từ ba cái giếng đào được nối với nhau thành địa đạo. Cách nối với nhau không bị chênh là cần phải thẳng, để làm được được điều đó người ta cắm 3 cái đèn thẳng nhau thì đó sẽ là đường thẳng. Nếu ba cái đèn không thẳng sẽ bị lệch, khuất đi.Ở trong hầm địa đạo không chỉ là nơi tránh mưa bom, đạn lạc mà còn là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, có phòng chiếu phim, phòng họp, phòng ăn, nhà bếp, phòng tắm, nhà hộ sinh… Công dụng của địa đạo không chỉ là nơi sinh hoạt, bảo đảm an toàn cho cán bộ, quân và dân ta mà còn là nơi chứa vũ khí và lương thực ra đảo Cồn Cỏ, cách địa đạo Vịnh Mốc 30km. Địa đạo bắt đầu được xây dựng từ đầu năm 1966 đến cuối năm 1967. Để khích lệ tinh thần chiến sĩ và dân quân ông mở cuộc thi: Ai đào được 3m một ngày thì gọi là kiện tướng, ai đào 4m một ngày thì gọi là đại kiện tướng. Vì đường hầm rất bé nên thường mỗi tổ chỉ từ 2 đến 3 người. Ở địa đạo có nơi sâu nhất, so với mặt đất lên đến gần 30m. Chia ra nhiều tổ đào và những đường đào đấy sẽ được nối với nhau. Đất đào được ở địa đạo sẽ được cho lên xe cút kít đổ ra biển. Để che mắt máy bay của địch, người dân đã đổ đất ra nhiều nơi gần sát với biển, rồi lấy cát lấp lên trên, khi thuỷ triều dâng, sóng biển xô vào và mỗi lần như vậy sẽ cuốn đất từ từ ra biển, quân địch không thể phát hiện. Công việc nấu nướng phải nghĩ cách, ở phía trên bếp ông cho trải lớp lá dầy, khói mỗi lần toả lên qua những kẽ hở li ti của lá, toả dần từng tí một ra ngoài. Làm thế nào để gạo không bị mốc, vì cho gạo xuống hầm không khí ẩm ướt sẽ làm gạo bị hôi. Ông cho đục những thân tre khoét rỗng ruột ở trong. Những thân tre được nối lại với nhau với độ dài 15 m thông từ phía trên ở bên ngoài xuống căn bếp. Sau khi dùng xong sẽ có nắp đậy và dùng khoá khoá lại, như vậy vừa bảo đảm an toàn và tiết kiệm thời gian không phải mỗi lần lấy gạo lại phải chạy lên, chạy xuống nhất là trong lúc giặc ngày nào cũng điên cuồng trút bom dội đạn xuống vùng đất này. Trong thời gian đào hầm thì ở địa phương, máy bay địch bắn phá rồi đất văng tung toé, núi lở, cây ngã, nhiều cửa hầm bị bịt kín. Riêng địa đạo Vịnh Mốc ông cho xây 13 cửa hầm, 7 cửa hầm thông ra biển, 5 cửa hầm thông lên đồi, đề phòng nếu chẳng may cửa hầm này sập còn có cửa hầm khác. Cửa hầm thông ra biển, tiện lợi cho việc vận chuyển vũ khí và lương thực ra đảo Cồn Cỏ. Ngày nay, một số cửa hầm theo thời gian đã bị lấp, nhưng vẫn còn đó chứng tích về điều huyền diệu, mầu nhiệm đã làm nên một địa đạo ăn sâu vào lòng đất như bản anh hùng ca bất tử và vô tận. Cả cuộc đời ông gắn bó với vùng đất oằn mình hứng chịu bom rơi đạn trút của quân thù. Vùng đất thấm đẫm máu xương của những người con kiên cường bám trụ, gan dạ đất Vĩnh Linh, nơi địa đầu tuyến lửa. Năm 1972, là thời kì mảnh đất này chịu hàng vạn tấn bom lớn nhỏ các loại, chất độc diocin trải thảm xuống chiến trường Quảng Trị. Trong một lần làm việc tại giới tuyến sông Bến Hải, dòng sông ngăn cách Nam – Bắc, ông bị hai mảnh đạn văng vào đầu. Năm 1973, ông được phân công chức vụ công tác là Đồn trưởng đồn Công an Vũ trang giới tuyến Cửa Tùng. Năm 1974, ông chuyển về làm Tham mưu trưởng Công an Vũ trang tỉnh Quảng trị. Năm 1976, sau khi thống nhất đất nước và hoà bình lập lại trên quê hương, 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế sáp nhập thành Bình Trị Thiên, ông về làm Tham mưu trưởng công an Vũ trang Bình Trị Thiên. Năm 1979, ông giữ chức Huyện đội trưởng huyện Hương Hoá và công tác cho đến năm 1984 thì về hưu. Năm 1986, ông được bầu là Chủ tịch Mặt trận Phường 5, thành phố Đông Hà. Lúc này đây mắt ông bắt đầu mờ và yếu dần do di chứng vết thương, trúng viên đạn trên đầu vào mùa hè năm 1972 khi xưa. Năm 1988, mắt ông đã gần như không còn nhìn thấy gì và sau này ông đã đứng ra thành lập Hội người mù tỉnh Quảng Trị. Năm 1995, ông được bầu làm Chủ tịch Hội người mù của tỉnh Quảng Trị. Đến năm 2005 ông nghỉ công tác và sống cùng con cháu./.

Trả lời