Ngày 15/10/1945 Quân khu 4 (ban đầu là Chiến khu 4) được thành lập theo sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên địa bàn bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; phía Bắc giáp Quân khu 3, phía Nam giáp Quân khu 5, phía Tây giáp nước CHDCND Lào, phía Đông giáp biển Đông. Địa thế hẹp kéo dài và rất dễ bị chia cắt. Từ xa xưa vùng đất này luôn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng, từng là chốn “biên thuỳ”, “phên dậu”, là nơi xuất phát của nhiều cuộc khởi nghĩa và hậu phương chiến lược trong chiến tranh giữ nước của dân tộc. Là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh ra nhiều anh hùng giải phóng dân tộc, nhiều nhà văn hoá lớn, nhân dân giàu lòng yêu nước, có truyền thống cách mạng kiên cường, dũng cảm, cần cù, sáng tạo.

  1. Đặc điểm tự nhiên.

         Quân khu 4 nằm ở khu vực Bắc Trung bộ trải dài từ dãy núi Tam Điệp đến đèo Hải Vân, diện tích tự nhiên khoảng 52.062km2, có chiều dài 524 km, bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Phía Bắc giáp tỉnh Sơn La, Hoà Bình (Quân khu 2) và tỉnh Ninh Bình thuộc Quân khu 3. Phía tây chung dãy Trường Sơn với nước bạn Lào có đường biên giới dài 1.162km, phía đông giáp biển Đông có đường bờ biển dài 662km, thềm lục địa rộng 76.000km2. Địa thế Quân khu rộng ở phía Bắc và hẹp dần về phía Nam (chiều ngang nơi rộng nhất là ở Nghệ An 202km, nơi hẹp nhất là Quảng Bình chưa đầy 50km), trong đó 3/4 là đồi núi.

         + Mạng lưới Giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu rất phong phú và đa dạng có ý nghĩa chiến lược về kinh tế và quốc phòng:

         – Tuyến đường Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chạy dọc theo bờ biển qua các tỉnh trong Quân khu nối liên hai đầu đất nước. Là huyết mạch giao thông, nơi vận chuyển phần lớn khối lượng hàng hoá lưu thông giữa các vùng, miền trong nước.

         – Tuyến đường 15A từ miền tây Thanh Hoá chạy dọc theo dãy Trường Sơn vào Tây Nguyên thuộc Quân khu 5 vừa có tác dụng thay thế Quốc lộ 1A khi cần thiết vừa là huyết mạch giao thông giữa các tỉnh trong Quân khu, đây cũng là một bộ phận quan trọng hình thành nên con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

         – Các trục đường ngang từ ven biển, đồng bằng lên miền tây các tỉnh và thông sang nước bạn Lào như: 217A, 217B, đường 7, đường 8, đường 9…. đã tạo nên mối liên kết gắn bó giữa hai dân tộc Việt – Lào cả trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung và trong công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước hôm nay. Những tuyến đường này còn là cửa ngõ thông thương quan trọng của miền Trung Đông Dương với thế giới bên ngoài.

         – Với hệ thống sông ngòi khá dày đặc, chủ yếu chảy từ Tây, Tây bắc sang Đông, Đông Nam tạo nên mạng lưới giao thông đường thuỷ trong vùng. Những dòng sông như Sông Mã ở Thanh Hoá, Sông Lam ở Nghệ An, Sông Nhật Lệ ở Quảng Bình, Sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, Sông Hương ở Thừa Thiên Huế tạo điều kiện phát triển giao thông đường thuỷ nội địa, đây cũng là những ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh trong Quân khu.

         – Do có đường bờ biển dài thềm lục địa rộng nên Quân khu có ưu thế lớn về giao thông đường biển với nhiều cảng biển lớn nhỏ: Sầm Sơn, Nghi Sơn, Cửa Lò,  Vũng Áng, Cửa Tùng, Cửa Việt, Thuận An… có giá trị lớn về vận tải viễn dương, là đầu mối giao thông buôn bán trong nước và quốc tế, là căn cứ chiến lược trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền lãnh hải của đất nước.

         – Mạng lưới đường không của Quân khu  đang ngày càng phát triển với nhiều tuyến đường đến các vùng trong nước và quốc tế, có nhiều sân bay như: Sân bay Vinh, sân bay Phú Bài (Thừa Thiên Huế), sân bay Đồng Hới (Quảng Bình)…

         Từ những vai trò có ý nghĩa chiến lược như vậy nên hệ thống giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu là nơi đã diễn ra những cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ với nhiều địa danh đã đi vào lịch sử như: Hàm Rồng, Bến Thuỷ, Ngã ba Đồng Lộc, Ngã ba Truông Bồn, Phà Linh Cảm, Phà Nhật Lệ…

         + Quân khu 4 có cấu tạo địa hình rất phức tạp, núi rừng hiểm trở, độ dốc nghiêng về phía Đông, nhiều dãy núi cao từ 2000m xuất phát từ dãy Trường Sơn trải dài xuống vùng trung du, đồng bằng ven biển hình thành những điểm cao có ý nghĩa chiến lược trong tiến công và phòng ngự. Từ vị trí địa lý và cấu tạo địa hình nên hình thái tự nhiên các tỉnh trong Quân khu đã hình thành 3 vùng chiến lược về kinh tế – quốc phòng rất quan trọng:

         – Vùng rừng núi: Chủ yếu tập trung ở phía tây có dãy Trường Sơn bao la, hùng vĩ, cùng chung biên giới với nước bạn Lào. Địa hình hiểm trở, có nhiều tài nguyên quý hiếm, là căn cứ địa, chỗ đứng chân của các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm diễn ra trong lịch sử. Có dãy núi Tam Điệp án ngữ ở phía Bắc, dãy Hoành Sơn nằm giữa và đèo Hải Vân án ngữ phía Nam tạo thế chia cắt chiến lược giữa các vùng trong Quân khu.

         – Vùng trung du: Rộng ở phía Bắc và hẹp dần về phía Nam, có nhiều sông ngòi xen kẽ với đồi núi và đồng ruộng, có tiềm lực về nông lâm nghiệp. Là vùng tiếp giáp giữa rừng núi và đồng bằng ven biển nên có điều kiện xây dựng thành hậu phương cho từng khu vực phòng thủ liên hoàn.

         – Vùng đồng bằng – ven biển: Nằm dọc theo Quốc lộ 1A, càng về phía Nam càng hẹp và bị nhiều sông ngòi chia cắt. Là vùng đông dân, nhiều của tập trung các thành phố, thị xã lớn (Tp Thanh Hoá, Tp Vinh,Tp Hà Tĩnh, Tp Đồng Hới, Tp Huế) là những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá trên địa bàn Quân khu. Đây là vùng cung cấp nhân tài vật lực cho cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng là tuyến phòng thủ trực tiếp chiến đấu khi địch tấn công từ biển vào. Ngoài ra cách bờ biển Quân khu không xa (từ 27 – 30km) có một số hòn đảo lớn nhỏ: Đảo Mê, Đảo Mắt, Đảo Ngư, Hòn La, Cồn Cỏ… tạo thành những đài quan sát, là vọng gác tiền tiêu đánh địch từ xa. Nơi đây đã từng diễn ra nhiều trận đánh quyết liệt của quân và dân Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngày nay những hòn đảo này cùng với những điểm cao dọc bờ biển tạo thành bức tường vững chắc bảo vệ vùng biển, vùng trời Tổ quốc.

         Với những đặc điểm và lợi thế riêng các vùng chiến lược về kinh tế và quốc phòng nêu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Quân khu 4 phát triển nhiều ngành nghề kinh tế đa dạng, là hậu phương cung cấp nhân tài vật lực cho đất nước.

  1. Đặc điểm văn hoá xã hội, địa bàn chiến lược:

         Là vùng có dân cư đông, có nền văn hoá đặc sắc và lâu đời. Với những di chỉ khảo cổ học như: nền văn hoá núi Đọ (Thanh Hoá) thời đã cũ cách đây 30 vạn năm, Văn hoá Quỳnh Văn (Quỳnh Lưu – Nghệ An), Bàu Tró (Quảng Bình) cách đây 5 – 6 nghìn năm và đỉnh cao là nền văn hoá Đông Sơn, phát triển rực rỡ với nhiều hiện vật tiêu biểu (trống đồng Đông Sơn, công cụ lao động sản xuất bằng đồng….) đã giúp cho chúng ta có thể khẳng định rằng: Từ lâu dải đất từ núi Tam Điệp đến đèo Hải Vân đã nằm trong cái nôi văn hoá hình thành nên dân tộc Việt Nam.

         Ngày nay trên vùng đất này còn nhiều di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh như: Thành nhà Hồ (Thanh Hoá); Thành Lục Niên, Khu di tích Làng Vạc, Khu di tích Kim Liên ở Nghệ An… đặc biệt là di sản văn hoá Cố đô Huế nơi có Nhã nhạc cung đình Huế – di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha Kẻ Bàng, khu dự trữ sinh quyển thế giới Vườn quốc gia Pù Mát.

         Là vùng tập trung đông dân cư sinh sống với 49 dân tộc anh em, trong đó dân tộc kinh chiếm 93% dân số.Trải qua sự thăng trầm của lịch sử, trong quá trình dựng nước và giữ nước con người nơi đây được tôi luyện dạn dày trong cuộc sống, trong đấu tranh với thiên nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Nhân dân Quân khu 4 cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động, sản xuất, kiên cường, bất khuất dũng cảm trong đấu tranh, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Sử sách đã ghi nhận nơi đây là vùng “địa linh nhân kiệt”, nơi sản sinh biết bao vị anh hùng dân tộc, nhiều danh tướng tài ba, nhiều danh nhân văn hoá như: Triệu Thị Trinh, Mai Thúc Loan, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ…. Đặc biệt là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hoá thế giới, Người đã tìm ra con đường cứu nước và dẫn dắt dân tộc ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ dân tộc ta có 10 vị đại tướng tài danh thì Quân khu 4 vinh dự đóng góp 5 người: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Lê Đức Anh, Đoàn Khuê. Vùng đất này cũng sinh ra cho Đảng ta 5 vị tổng bí thư qua các thời kì cách mạng như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Lê Duẩn, Lê Khả Phiêu. Điều đó đã chứng minh rằng, trên dải đất “ lắm mưa nhiều nắng” này “ hào kiệt đời nào cũng có”.

Từ những yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà tạo cho địa bàn Quân khu 4 vị trí “thiên hiểm” có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng vừa có thể tiến công vừa chủ động trong phòng ngự:

         – Quân khu 4 có chiều sâu liên hoàn: nối liền với đồng bằng Bắc bộ rộng lớn với miền Tây Bắc Tổ quốc và Quân khu 5, có mối liên hệ chặt chẽ, gắn liền với nước bạn Lào. Là địa bàn có bờ biển dài, núi cao, sông sâu, có vùng Tây Bắc    Thanh – Nghệ – Tĩnh rộng lớn làm hậu phương, hai đầu có những dãy núi dài, hiểm trở tạo thành những tuyến phòng thủ vững, tiến công chắc, xen kẽ là những dòng sông lớn tạo thế chia cắt khi cần thiết. Do đó Quân khu 4 luôn được ví như đòn gánh, như xương sống nối hai đầu đất nước, là hậu phương, là căn cứ chiến lược, là địa bàn đứng chân của các cuộc kháng chiến và đấu tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử. Vì vậy trong các cuộc chiến tranh xâm lược kẻ thù luôn cố đánh vào khu vực này hòng phá vỡ thế liên hoàn của chúng ta và tạo ra sự chia cắt giữa hai miền Nam – Bắc: Lịch sử đã từng ghi nhận hai lần Quân khu 4 bị chia cắt là thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh (lấy Sông Gianh làm nơi chia cắt) và thời kỳ chống Mỹ cứu nước vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm thời.

  1. Những chặng đường vẻ vang.

Tuỳ từng giai đoạn lịch sử Quân khu 4 vừa là tiền tuyến vừa là hậu phương của cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước: Trong kháng chiến chống thực dân Pháp địa bàn Quân khu 4 vừa hậu phương chi viện cho chiến trường Bắc Bộ và miền Trung Đông Dương vừa trực tiếp chiến đấu ở chiến trường Bình – Trị  – Thiên. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ thì Quân khu 4 vừa là tiền tuyến trực tiếp chiến đấu bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc XHCN vừa là hậu phương trực tiếp chi viện cho cuộc chiến đấu ở miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế với nước bạn Lào. Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày hôm nay quân và dân Quân khu 4 vừa phát triển kinh tế, xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu cao đánh bại mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù, bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển, biên giới, hải đảo trên địa bàn Quân khu. Vừa sẵn sàng cơ động chi viện cho các chiến trường, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế do Đảng ta giao phó:

– Giai đoạn (1946 – 1954): Quân khu 4 với vị trí chiến lược của mình vừa là hậu phương chi viện cho chiến trường chính phía Bắc, chiến trường Bình – Trị – Thiên và Trung Lào; vừa trực tiếp chiến đấu tại chiến trường “Bình – Trị – Thiên khói lửa”. Vượt qua mọi gian khó quân và dân Quân khu 4 đã góp phần xứng đáng cùng nhân dân cả nước làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên chấn động địa cầu, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến, dập tắt hoàn toàn ảo vọng xâm lăng của thực dân Pháp.

– Giai đoạn (1954 – 1975): Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa kết thúc, dân tộc Việt Nam bước ngay vào cuộc trường kì kháng chiến suốt 21 năm chống Mỹ cứu nước. Trong cuộc chiến đấu gian khổ ác liệt đó mảnh đất Quân khu 4 luôn mang trên mình những nhiệm vụ lịch sử lớn lao: Trực tiếp chiến đấu chống Mỹ ở Trị- Thiên, Đường 9; đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ bảo vệ miền Bắc XHCN, chi viện cho miền Nam và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nước bạn Lào anh em.

– Giai đoạn (1976 – nay): Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ toàn thắng, đất nước thống nhất, chuyển từ chiến tranh sang hoà bình, quá độ lên CNXH. Đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, phù hợp với vị trí, địa bàn, truyền thống lịch sử và tình cảm của Đảng bộ, nhân dân các địa phư­ơng, ngày 29/3/1976 Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh hợp nhất Quân khu Trị Thiên và Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hoá về Quân khu 4. Tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của vùng đất Chiến khu 4 năm x­ưa, quân và dân Quân khu 4 đã v­ượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đ­ược giao, góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, “ra sức xây dựng Quân khu ngày càng hoàn chỉnh, vững mạnh toàn diện: vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng…trở thành một trong những căn cứ hậu phư­ơng chiến l­ược quốc gia vững chắc, một khu vực phòng thủ chiến l­ược bất khả xâm phạm”